Bạn bè bốn phương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Thu Hà)
  • (Nguyễn Kim Dung)
  • (Nguyễn Chí Luyện)
  • (Nguyễn Anh Tú)
  • (Nguyễn Thị Hải Yến)
  • (Vũ Mai Phương)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Zalo_636440189903701899.jpg FB_IMG_1506083159863.jpg FB_IMG_1506150059614.jpg 20171003_162244.jpg 20171003_162217.jpg 20171007_082500.jpg 20171007_083153.jpg 20171003_161350.jpg 20171003_160237.jpg 20170905_071812.jpg 20170905_073806.jpg 20170905_081433.jpg 20170905_082107.jpg 20171003_162959.jpg 20171003_163806.jpg 20171005_090925.jpg 20171007_094042.jpg 20170905_071810.jpg IMG_20171007_101744.jpg IMG_20171007_101524.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Gốc > Trao đổi chuyên môn >

    Năm học mới và triết lý giáo dục cũ

    Năm học mới đã gần đến, các trường học khắp cả nước đang chuẩn bị đón học sinh khai giảng. Tuy nhiên, năm nay hơi bị trục trặc vì dịch cúm H1N1. Các thầy giáo và học sinh, cả cha mẹ học sinh nữa đang chờ đón nhiều thay đổi ở năm học này, nhưng có lẽ sẽ khó có đột phá nào quan trọng. Cỗ xe giáo dục đang đi theo đường ray hiện tại, rất khó chuyển hướng. Cỗ xe ấy  có quán tính rất lớn.

    Trong tình huống đó, xem xét lại những tinh hoa văn hóa dân tộc, tìm kiếm triết lý giáo dục mà cha ông ta đã sử dụng cả ngàn năm nay… cũng là một công việc không uổng phí.

    Thực vậy, trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc có một từ đánh giá chất lượng học trò rất hay. Đó là từ “sáng dạ”. Một học trò ngày xưa không dễ được các cụ đánh giá là “sáng dạ”. Họ không những nhớ nhanh, nhớ dai những điều đã học, mà chủ yếu biết vận dụng cái đã học một cách tài tình, sáng tạo. Họ không chỉ sáng dạ khi làm câu đối, viết bài luận, mà cơ bản là còn sáng dạ trong muôn vàn tình huống đời thường. Các cụ bảo những người sáng dạ là “học một biết mười”. Họ học được những nguyên lý cơ bản để vận dụng trong hàng ngàn  tình huống khác nhau.

    Nhưng tại sao các cụ lại gọi những người có khả năng vận dụng sáng tạo sở học vào thực tế là kẻ “sáng dạ”, mà không gọi là người “sáng óc”. Có phải những người đó ăn chữ vào bụng không? Chữ có thể “ăn” được không?

    Theo nguyên lý tích/tản thì con người có 4 bậc tích tản. Ngay lúc chào đời, khi cất tiếng khóc đầu tiên, đứa trẻ đã biết tích khí. Nó hít dưỡng khí vào phổi, tản khí vào trong các nội tạng để nuôi dưỡng có thể. Khả năng tích/tản khí của lá phổi là một khả năng tiên thiên, tự có, không phải ai dậy dỗ cả (có chăng sau này nếu đứa trẻ theo môn Yoga thì phải được dạy và học cách thở theo thuật yoga).

    Tích/tản khí thì không phải học, nhưng tích/tản chất để nuôi sống cơ thể thì hơi khác. Tự đứa trẻ biết tìm vú mẹ để bú sữa, nhưng miếng cơm miếng cháo thì nó phải được bón. Có lẽ cũng phải ngoài 3,4 tuổi thì một đứa trẻ mới học được cách cầm thức ăn đưa vào miệng thông qua các dụng cụ (bát, đũa, thìa, nĩa,…). Quá trình học ăn còn diễn ra dài dài trong đời. Tuy nhiên, đa phần ngoài 7-8 tuổi thì trẻ con đã biết cách cầm đũa tự ăn. Hành động tự xúc cơm vào miệng gọi là “hành vi tích chất”. Các chất tích vào bụng thì được chế biến để rồi tản ra để nuôi dưỡng cơ thể. Như vậy chất nuôi dưỡng cơ thể đã được tích/tản tại dạ dày, tại cái bụng.

    Trong khi đó, chữ nghĩa có lẽ được tích/tản tại óc. Ngày xưa, trường học đầu tiên và quan trọng nhất là nhà mình, người thầy đầu tiên là cha mẹ, nên con cái gọi cha mẹ là thầy mẹ (hay thầy u). Ngày nay họ chỉ gọi cha mẹ là bố mẹ (hay ba mẹ). Tôi không bàn sự thay đổi cách xưng hô trong gia đình ở bài này, vì chưa nghiên cứu kỹ xem có phải tự cha mẹ từ bỏ vai trò làm người thầy đầu tiên, không làm gương cho con nữa, hay tự trẻ con không nhận cha mẹ họ là thầy, vì bây giờ cha mẹ lo kiếm tiền nhiều hơn lo dạy dỗ con cái.

    Trong bài này, tôi chỉ bàn đến vấn đề tích/tản chữ với ý nghĩa đó là tích/tản các giá trị tinh thần vào óc, mà tại sao các cụ lại dùng từ “sáng dạ” để trỏ một học trò sáng tạo. Có lẽ không cần đi sâu lắm vào lý thuyết tích/tản, chúng ta cũng có thể đồng ý rằng nhà trường là nơi trẻ em đến để tích lũy kiến thức.

    Vậy bàn luận về triết lý giáo dục có lẽ sẽ phải xoay quanh vấn đề tích/tản (tích lũy và sử dụng) kiến thức như thế nào? Hiện nay, các nhà giáo dục bàn nhiều về triết lý giáo dục. Người thì bảo vai trò của thầy là quan trọng nhất. Người thì bảo vai trò của học sinh là trung tâm. Họ còn nói rằng có thể giáo dục theo một quá trình công nghệ.  Trên cơ sở các thuyết đó, họ xây dựng các triết lý giáo dục. Họ bàn đến cả tính chất thị trường của giáo dục nữa. Theo tôi nghĩ, những bàn luận ấy không sai, chỉ chưa đi sâu vào bản chất của quá trình học mà thôi. Bản chất của quá trình học là tích kiến thức vào óc, tản kiến thức đã được lựa chọn, chế biến, nâng cấp ra môi trường dưới dạng các sản phẩm tinh thần.

    Sản phẩm tinh thần đơn giản nhất là một bài tập. Do đó, tích lũy kiến thức mà không làm bài tập thì mới đi được nửa quãng đường của quá trình học. Hiện nay, cách dạy học trong nhà trường (thậm chí đến cả cấp đại học nữa) là đọc-ghi. Thực chất đó là cách bón chữ cho học sinh, giống như các vú nuôi đang bón cháo cho trẻ nhỏ ẵm ngửa. Một số trường dạy học theo phương pháp mới (như xây dựng vài chương trình song ngữ, hoặc ứng dụng công nghệ giáo dục…) cũng chưa thoát được tình trạng “bón” chữ. Do đó, có thể nói những tìm tòi cải cách giáo dục thời gian qua mới tập trung vào nửa đầu của quá trình học, nửa tích, mà chưa quan tâm nhiều đến nửa sau của quá trình ấy, nửa tản. Tích nhiều mà tản ít thì dần dần sẽ làm thui chột khả năng sáng tạo của trẻ.

    Tất nhiên, ở các lớp nhỏ (vỡ lòng, hoặc lớp 1,2,3) trẻ chưa biết viết, biết đọc, chưa biết sử dụng các công cụ khác để tự “xúc chữ vào óc” thì lúc đầu các thầy cô giáo nhất định phải “bón” chữ cho trẻ. Nhưng, về triết lý ngay từ lúc mới đến trường phải dạy cho trẻ tư thế “tự ăn lấy chữ”.

    ở các lớp càng lớn thì quá trình “tự ăn chữ” phải được diễn ra càng mạnh. Phương pháp đánh giá khả năng “tự ăn chữ” là đánh giá chất lượng sản phẩm tinh thần mà học trò tản ra, tức là chấm điểm bài tập. Bài tập thì có nhiều loại. Loại đơn giản là các bài tập vẫn cho trong sách giáo khoa, loại phức tạp và có giá trị nhất là các bài tập về lập thuyết trước đám đông. Để thuyết phục được đám đông thì kiến thức phải phong phú, lập luận phải logic, trình bày phải sáng sủa hấp dẫn. Nếu một học sinh mà đến tận lúc tốt nghiệp đại học mới tập trình bày khóa luận trước một hội đồng thì anh ta sẽ còn lúng túng trong đời vài năm nữa, anh ta chưa thể hòa nhập cộng đồng mà làm việc tốt ngay được.

    Vì vậy, có thể thấy cách cho điểm, cách thi cử hiện nay có nhiều khía cạnh bất cập. Nó không cho biết học sinh đã tích lũy được bao nhiêu kiến thức, bằng phương pháp nào, sàng lọc lựa chọn kiến thức ra sao. Quan trọng hơn, cách chấm điểm hiện nay càng không thể đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức vào việc giải các bài toán thực. Cách cho điểm theo kiểu trắc nghiệm càng nguy nữa. Các dấu “tíc, tic” khô cứng càng không cho chúng ta biết gì về khả năng sáng tạo.

    Cụ Nguyễn Hiến Lê từng viết rằng muốn học về một vấn đề gì thì Cụ tìm kiếm tài liệu để viết về vấn đề đó. Cụ viết ngay cả khi còn biết rất ít về vấn đề ấy. Thực chất, chính cụ đã lên một kế hoạch “tản” ra một giá trị tinh thần nào đó ngay cả khi mới bắt đầu nghiên cứu về một lãnh vực mới mẻ.

       Vậy triết lý giáo dục là tự học để biết tản ra một giá trị tinh thần mà cộng đồng có thể chấp nhận. Cộng đồng nhỏ nhất mà học trò sẽ “tản” là lớp học, chứ không chỉ riêng thầy giáo đang chấm bài cho học trò đó. Do đó, cấu trúc của một trường học sẽ cực kỳ đơn giản. Trường là nơi mà học trò đến để tích kiến thức dưới bất kỳ hình thức nào. Tùy năng lực, họ có thể tích nhanh, tích chậm. Thầy là một kho kiến thức sống mà trò có thể truy vấn vào đó để tích kiến thức. Ngoài ra, còn rất nhiều kho kiến thức khác, như thư viện, sách báo, bạn bè, internet, môi trường sống trong và ngoài trường. Mỗi buổi học tại trường phải là một buổi trình diễn (tản) các kiến thức đã tích được dưới dạng một buổi thảo luận, một buổi nói chuyện, một cuộc tranh luận, một bài viết về một chủ đề nào đó. Điểm số được đánh giá bởi tất cả các bạn bè và thầy giáo.

    Nếu theo triết lý đó, cơ hồ học sinh sẽ biết “tự ăn chữ” sau một số năm học tập, họ không còn chờ thầy bón chữ cho nữa. Và như vậy chỉ sau vài năm nước ta sẽ có một thế hệ thanh niên đầy sức sáng tạo. Người ta tích thực phẩm thì đến một độ nào đó (khoảng 18-20) đạt được một cơ thể trưởng thành. Thế còn tích kiến thức thì đến lúc nào sẽ được một kho kiến thức trưởng thành, trong khi tuyên ngôn của UNESCO là học suốt đời? Có lẽ tích đến độ tự biết cách tích thêm, tức đến độ có thể tự học mà thấy vui chăng. Đấy là thời điểm mà cộng đồng và có thể cả tự bản thân mình nữa thấy mình “sáng dạ”. Cho nên, theo triết lý học để có thể trở thành “sáng dạ”, thì trách nhiệm của Bộ GD-ĐT là phải thiết kế chương trình để học sinh có thể tiếp cận đến điểm “sáng dạ” một cách vững chắc và nhanh chóng nhất.

    Có lẽ các cụ ta ngày xưa đã từng chịu đói mà đọc sách. Đọc một hồi không những quên đói, mà lại thấy vui trong lòng vì tìm thấy các ý tưởng lạ ngoài các dòng chữ. Những người đã trải qua những đận “đói, vui, sáng tạo” như vậy trong lúc học thì rất dễ nảy nở sáng tạo trong khi gặp các cảnh huống thực tế cho nên được gọi là “sáng dạ” chăng? Có thể tôi luận chữ này chưa đúng, nhưng theo tôi đó là một trong những từ tiếng Việt hay nhất, mà đến nay ít người dùng. Thật đáng tiếc thay.

    Nguồn: Văn nghệ


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Quốc Tộ @ 01:15 16/09/2009
    Số lượt xem: 1267
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến