Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:38' 05-08-2023
Dung lượng: 314.3 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây Bộ GD - ĐT đã có những cải cách lớn trong
toàn ngành giáo dục nói chung và đặc biệt là trong việc dạy và học ở trường phổ
thông nói riêng; nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về đức, trí, thể,
mĩ. Nội dung giáo dục, đặc biệt là nội dung, cơ cấu sách giáo khoa được thay
đổi một cách hợp lý vừa đảm bảo được chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, có
hệ thống vừa tạo điều kiện để phát triển năng lực của mỗi học sinh, nâng cao
năng lực tư duy, kỹ năng thực hành, tăng tính thực tiễn. Xây dựng thái độ học
tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học,
ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Tuy còn nhiều vấn đề phải bàn nhưng nghiên cứu sách giáo khoa Hóa 9
hiện hành (thuộc chương trình giáo dục phổ thông 2016) có thể thấy rõ định
hướng gắn lí thuyết với thực tiễn của nội dung đổi mới dạy học Hóa học. Tuy
vậy đi từ lí thuyết đến thực tế là một khoảng cách khá xa. Thời gian học tập trên
lớp có hạn, lượng kiến thức nặng, áp lực học tập nhiều môn…. Hơn nữa học
sinh lớp 9 là lứa tuổi mới lớn có rất nhiều sự quan tâm mới rất dễ sao nhãng
việc học. Một bộ phận học sinh có tâm lí tập trung học thi vào THPT sau đó sẽ
học hóa sau. Đó là những khó khăn rất khó tháo gỡ đối với đổi mới dạy học bộ
môn Hóa học.
Trong thực tế giảng dạy, đa số giáo viên ý thức về việc liên hệ thực tế với
bài học, tăng tính hấp dẫn và kết nối bài học với cuộc sống, tuy vậy việc này
chưa thường xuyên, còn mang tính cảm tính.
Môn Hóa học là bộ môn khoa học nghiên cứu về chất, sự biến đổi về
chất- những biến đổi vật chất trong tự nhiên. Môn hóa học hiện nay được đầu tư
trang bị các thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu giảng dạy bộ môn, phù hợp cấp
học, bậc học, đồng thời đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, được cập nhật thông
tin đầy đủ, kịp thời. Trong thực tế giảng dạy, với năng lực cụ thể của từng giáo
viên, kỹ năng sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học góp phần quan
trọng trong chất lượng giảng dạy đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn trong
các nhà trường.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, giáo dục nước ta đang đổi mới từ “dạy
học định hướng nội dung” chuyển sang “dạy học định hướng năng lực”, thay vì
quan tâm học sinh “học được gì?” chuyển sang chú trọng học xong học sinh
“làm được gì?”. Người giáo viên phải đổi mới phương pháp, hình thức dạy học
để nâng cao chất lượng học tập bộ môn, phát triển năng lực cho học sinh. Do
đó, người giáo viên phải vận dụng nhiều hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy
học tích cực, trong đó có cách khai thác các hiện tượng hóa học thực tế trong tự
nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn Hóa học rất gần gũi

2
hơn, có hứng thú trong học tập và đạt kết quả tốt hơn. Từ đó học sinh sẽ thấy
việc học môn Hóa học có ý nghĩa, hứng thú hơn trong việc học tập, như vậy
hiệu quả giảng dạy bộ môn được nâng cao đồng thời phát triển năng lực, phẩm
chất và tư duy toàn diện cho học sinh.
Với tình hình thực tế như vậy, người giáo viên phải vận dụng nhiều hình
thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, trong đó có cách khai thác các
hiện tượng hóa học thực tế trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các
em thấy môn Hóa học rất gần gũi hơn, có hứng thú trong học tập và đạt kết quả
tốt hơn. Khi kiến thức Hóa học được gắn liền với thực tiễn, việc giải thích và
vận dụng được kiến thức đã học sẽ làm cho học sinh cảm thấy môn học gần gũi,
có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Từ đó học sinh sẽ thấy việc học môn Hóa
học có ý nghĩa, hứng thú hơn trong việc học tập, như vậy hiệu quả giảng dạy bộ
môn được nâng cao đồng thời phát triển năng lực, phẩm chất và tư duy toàn
diện cho học sinh. Do đó tôi nghiên cứu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
“Liên hệ thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học ở
trường THCS”
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện với mục đích giúp HS giải thích những hiện
tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan. Đồng thời, đề tài cũng sẽ làm rõ
ý nghĩa khoa học hoá học có thể ứng dụng thực tiễn trong đời sống thường ngày
qua giảng dạy môn hoá học lớp 9, nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, hứng
thú trong môn học. Từ những cơ sở đó, đề tài cũng sẽ đem lại cho GV và HS
những nhận thức về PP học tập, làm việc mang tính hợp tác, thấy rõ vai trò tích
cực của HS và chủ đạo của GV làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc
thù phức tạp.
Tóm lại, đề tài muốn góp một tiếng nói vào phong trào đổi mới PPDH,
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo trong tình hình đất nước hiện nay.
3. NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:
Một là: nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp dạy học hoá học
ở trường phổ thông.
Hai là: nghiên cứu tình hình thực tế qua việc dự giờ các tiết dạy của GV
cùng bộ môn để đánh giá và rút ra PP giảng dạy thích hợp, đồng thời nghiên cứu
hiệu quả học tập của HS trong suốt quá trình thực hiện giải pháp.
Ba là: trên cơ sở thống kê số liệu chỉ rõ cách thực hiện và hiệu quả của
việc áp dụng :“Liên hệ thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học
ở trường THCS”
Đối tượng áp dụng đề tài là HS lớp 9 trường THCS Tản Lĩnh, Cụ thể là:
35 HS lớp 9D, 40 HS lớp 9A năm học: 2022 – 2023

3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài.
Đọc và khái quát các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: chủ yếu
là SGK và các loại sách về hóa học trong sản xuất và đời sống.
4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp này thực hiện bằng cách theo dõi và phân loại HS (Giỏi , Khá,
Trung bình, Yếu, Kém) để đưa ra cách giải hợp lý cho từng đối tượng.
4.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu
Sử dụng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra nhằm thu thập số liệu để đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp.
4.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với tổ trưởng, tổ chuyên môn, và tham khảo ý
kiến các giáo viên dạy giỏi về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
4.3. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tôi
cho HS kiểm tra các kiến thức đã học so sánh đối chiếu, từ đó rút ra tỉ lệ phần
trăm, nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả của của việc
dạy học hoá học ở trường THCS.
5. PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này được thực hiện trong phạm vi môn hoá học lớp 9 ở trường
THCS Tản Lĩnh nói riêng và ở huyện Ba Vì nói chung. Về mặt kiến thức kỹ
năng đề tài chỉ nghiên cứu một số dạng thuộc lĩnh vực hoá học trong sản xuất và
đời sống.

4
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Môn Hoá học giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
triển trí tuệ của học sinh. Mục đích của môn hóa học là giúp cho HS hiểu đúng
đắn và hoàn chỉnh; nâng cao những tri thức, hiểu biết về thế giới, về con người
thông qua các bài học, các giờ thực hành...
Học hoá để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở
cấu tạo nguyên tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng
hoá học.
Học hoá để biết, là góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm
phương hại đến đời sống, tinh thần của con người...
Học hoá để làm, là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng
phục vụ trong đời sống của con người.
Để đạt được mục đích của môn hoá học, ngoài việc phải tiếp thu đầy đủ
những kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ các thầy cô, HS còn tự mình
sưu tầm và tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Vận
dụng những kiến thức đã học được để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy
HS được củng cố kiến thức sâu sắc hơn.
Và cũng nhờ đó HS thấy học môn hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời
sống và lôi cuốn hơn.
2.Thực trạng
Trong quá trình học tập HS ít được hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi
chép rồi học thuộc, ít được suy luận, động não. Thời gian dành cho HS hoạt động
trong một tiết học là quá ít, kể cả hoạt động tay chân và hoạt động tư duy. Học sinh
chưa được trở thành chủ thể hoạt động. Hình thức hoạt động của HS cũng đơn
điệu, chủ yếu là nghe thầy đọc và chép vào vở, HS ít được động não và thường ít
được chủ động tích cực. Do vậy, PP học của HS là thụ động, ít tư duy, sáng tạo và
HS thường gặp khó khăn khi giải quyết những bài tập liên quan đến thực tế.
3. Đánh giá thực trạng:
Kết quả khảo sát chất lượng môn hoá học lớp 9 trường THCS Tản Lĩnh khi
chưa thực hiện đề tài trong hai năm học gần đây, về áp dụng “Liên hệ thực tế
nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học ở trường THCS” như sau:
Kết quả khảo sát chất lượng trước khi thực hiện đề tài
Lớp

Sĩ số

Trước khi áp dụng biện pháp
Không hứng thú

%

Hứng thú

%

9A

40

25

62,5

15

37,5

9D

35

22

62,8

13

37,2

5

Kết quả học tập khảo sát đầu năm của học sinh hai lớp 9A, 9D
năm học 2022 -2023
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
STT Lớp Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL %
1
9A
40
12
30
15
37,5
13
32,5
0
0
2
9D
35
7
20
12
34,3
13
37,1
3
8,5
Trước thực trạng trên, tôi đề xuất một số biện pháp và giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy của GV và học tập của HS.
4. Các giải pháp chủ yếu:
a. Các giải pháp chủ yếu:
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày thay cho lời
giới thiệu vào bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS bất ngờ,
nhưng tạo được sự chú ý quan tâm của HS trong quá trình học tập.
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày qua
các phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này
làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn của bài học và giải thích để
giải toả tính tò mò của HS.
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày qua
chuyện kể và có thể xen bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có
thể tạo không khí học tập thoải mái, đó cũng là cách kích thích niềm đam mê
học hoá học.
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh trong đời sống hàng ngày sau
khi kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS căn cứ vào kiến
thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng và từ đó HS sẽ suy nghĩ, ấp ủ vì sao
lại xảy ra hiện tượng đó tạo tiền đề thuận lợi cho học bài mới ở tiết sau.
b. Tổ chức triển khai thực hiện:
Để tổ chức thực hiện GV có thể dùng nhiều phương tiện, nhiều cách như:
bằng lời giải thích, hình ảnh đoạn phim, bài hát, câu ca dao, tục ngữ… và có thể
dùng máy chiếu.
Bằng các ví dụ minh hoạ thông qua một số hiện tượng… thực tiễn, có thể
áp dụng trong từng bài, từng chương cụ thể để nâng cao hiệu quả dạy-học môn
hoá học ở trường THCS.
c. Nội dung của đề tài:
Sau đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện khi dạy Hoá Học 9
Biện pháp 1: Khởi động bằng các tình huống có vấn đề
Nội dung: Khởi động bằng một tình huống có vấn đề mà với tri thức hiện
có HS không giải quyết được vấn đề đó. Cách khởi động này thúc đẩy HS mong
muốn tiếp thu tri thức để giải quyết được tình huống đặt ra. GV cần lựa chọn

6
tình huống có vấn đề liên quan mật thiết đến bài học, vừa sức với học sinh và
khi học xong bài mới HS có thể vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề đặt ra.
Cách tiến hành: Sử dụng tình huống có vấn đề để khởi động tiết học
Tiến trình bài học: sau khi tìm hiểu xong kiến thức, đến phần vận dụng,
liên hệ thực tế, giáo viên quay lại tình huống xuất phát để giải quyết vấn đề đặt
ra.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
- Giới thiệu bài “Tính chất của axit”
GV trình chiếu hình ảnh một người bị ong đốt.

 Khi bị ong đốt người ta thường bôi nước vôi vào
vết đốt để nhanh khỏi? Vì sao?
- Từ phần phát biểu ý kiến của học sinh, giáo viên
giới thiệu: Trong nọc ong chứa axit, khi bôi nước
vôi (bazơ) vào vết thương, giảm gây đau nhức, tổn
thương tổ chức da và cơ. Vậy phản ứng giữa axit và
bazơ diễn ra như thế nào? Phản ứng này được gọi là
gì? Chúng ta sẽ được tìm hiểu các kiến thức này
trong bài học ngày hôm nay “Tính chất của axit”

HOẠT ĐỘNG CỦA
HS
- Học sinh lắng nghe,
quan sát.

- HS trả lời và bổ sung
(HS có thể trả lời đúng
hoặc không)
- HS lắng nghe, ghi bài.

Tiến trình bài học: sau khi tìm hiểu xong về tính chất của axit, đến phần
vận dụng, liên hệ thực tế, giáo viên quay lại tình huống xuất phát, giới thiệu
“trong nọc độc của một số côn trùng như: ong, kiến, muỗi… có chứa một lượng
axit fomic  gây bỏng da và đồng thời gây rát, ngứa. Ngoài ra, trong nọc độc ong
còn có cả HCl, H3PO4, cholin…” yêu cầu học sinh sử dụng các kiến thức vừa
được học để giải quyết vấn đề.
Khi bôi vôi vào vết ong đốt xảy ra phản ứng trung hoà làm cho vết phồng
xẹp xuống và không còn cảm giác rát ngứa.
Một số kiến thức thực tế tạo tình huống có vấn đề khi giới thiệu bài
mới chủ đề “Oxit, axit”
Bài: Một số oxit quan trọng/ SO2

7
Lưu huỳnh đioxit là một hợp chất hóa học với công thức SO2. Chất khí này là
sản phẩm chính của sự đốt cháy lưu huỳnh và nó là một mối lo đáng kể cho
môi trường. SO2 thường được mô tả là "mùi hôi của lưu huỳnh bị đốt cháy".
Khí SO2 rất độc với hệ hô hấp của người và động vật.
Bài: Tính chất hoá học của axit
Nội dung
Từ axit có nguồn gốc từ tiếng Latinh : acidus có nghĩa là “chua”. Các loại hoa
quả có vị chua thường là do chứa axit.
Vậy axit có tính chất hoá học như thế nào?
CÂU CHUYỆN HOÁ HỌC TẠO TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ KHI GIỚI
THIỆU BÀI MỚI
Áp dụng
Nội dung
Phép màu của Xa lêch:
Thành phố Bát Đa mĩ lệ mấy ngày nay xôn xao vì một thầy
phù thủy có nhiều phép lạ. Quốc vương biết tin đó, ngài rất tò
mò cho tìm nhà thông thái Xa lêch vào cung và hứa nếu có thể
Bài:Một số thực hiện phép lạ, ngài sẽ thưởng cho xứng đáng.
axit quan
trọng
B/II. Axit
sunfuric đặc
Xa lếch tuân chỉ mang theo dụng cụ của mình vào cung.
Trước đức vua và văn võ triều thần ngài bình thản đổ một thứ
nước nóng trong suốt không màu vào một chiếc bình bằng
đồng chạm trổ đẹp mắt. Một tiếng xèo xèo phát ra, khói trắng
bốc lên, đức vua và bá quan ho sặc sụa và suýt chết ngạt. Họ
sợ hãi nhìn nhà thông thái và họ còn kinh ngạc hơn nữa khi
thấy chiếc bình đã biến mất, thay vào đó là một thứ nước màu
xanh lam và ngay chỗ đó tấm thảm đã bị cháy đen, nham nhở.
Và rồi sau phép lạ đó Xa lêch được thưởng xứng đáng!
→ Thứ nước mà Xa lêch đem theo là axit H 2SO4 đặc, nó hòa
tan đồng sinh ra khí SO2 gây ho và dung dịch muối đồng (II)
sunfat màu xanh lam. H2SO4 đặc hút nước, làm cháy vải nên
tấm thảm của nhà vua bị cháy nham nhở.
Điều kiện thực hiện: Lựa chọn các tình huống có vấn đề thiết thực, gắn với nội
dung bài học, gần gũi với học sinh, trước khi học với kiến thức hiện có học sinh

8
không giải quyết được hoặc giải quyết vấn đề không triệt để, sau khi học sinh
vận dụng kiến thức giải quyết được vấn đề đặt ra.
Hiệu quả: Tạo hứng thú học tập, tình huống có vấn đề thôi thúc học sinh tích
cực tham gia vào các nhiệm vụ học tập để có kiến thức, giải quyết được vấn đề
đặt ra.
Biện pháp 2: Liên hệ thực tế trong hoạt động hình thành kiến thức .
Nội dung: Khi học kiến thức Hoá học, từng đơn vị kiến thức hay phương
trình phản ứng có thể sử dụng tích hợp các kiến thức thực tế liên quan. Với cách
liên hệ này kiến thức vừa học trở nên sống động, thiết thực, học sinh vừa dễ
dàng ghi nhớ kiến thức vừa cảm nhận được sự thiết thực, ý nghĩa của việc học
tập, từ đó biết vận dụng những kiến thức hoá học vào cuộc sống.
Cách tiến hành:
Cách 1: Liên hệ các hiện tượng thực tiễn gắn với mỗi phương trình phản ứng.
Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các
phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có
thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn
bài học. Đây cũng là định hướng dễ nhận thấy trong cách viết sách giáo khoa.
Cách 2: Giải thích hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống sau khi đã kết thúc
bài học.
Sau khi đã có hệ thống kiến thức, sử dụng kiến thức để giải thích các hiện
tượng, đề xuất phương án giải quết các nhiệm vụ thực tế.
Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức
đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng
đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề
thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo
* Ví dụ minh họa: Bài “Tính chất của oxit” – Oxit bazơ
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
Tiến trình tìm hiểu về tính chất hoá học của
oxit bazơ, thí nghiệm CaO phản ứng với nước.
Giáo viên liên hệ thực tế: Phản ứng giứa CaO và
nước được gọi là phản ứng tôi vôi “Khi cho vôi
sống vào nước, thấy khói trắng bốc lên mù mịt,
nước vôi như bị sôi, em hãy giải thích”

HOẠT ĐỘNG CỦA HS
- Học sinh lắng nghe.
- HS sử dụng kiến thức
vừa học trao đổi nhóm
tìm ra câu trả lời.

Khi tôi vôi đã xảy ra
phản ứng tạo thành
canxi hiđroxit:

9
CaO + H2O  Ca(OH)2
Phản ứng này tỏa rất
nhiều nhiệt nên làm
nước sôi lên và bốc hơi
đem theo cả những hạt
Ca(OH)2 rất nhỏ tạo
Giáo viên lưu ý: Do nhiệt tỏa ra nhiều nên nhiệt độ
thành như khói mù
của hố vôi mới tôi rất cao, nên người và động vật
trắng.
cần tránh xa hố vôi để tránh hít phải hơi Ca(OH) 2
- HS lắng nghe, ghi bài.
hoặc rơi xuống hố vôi tôi sẽ gây nguy hiểm đến
tính mạng.
Các nội dung kiến thức liên hệ thực tế theo chủ đề
Bài: Oxit
Áp dụng
Nội dung
Phần I/1b
Phản ứng của
CuO và dung
dịch HCl tạo ra
dung dịch CuCl2
màu xanh lam

1. Dung dịch muối đồng (II) có màu xanh lam
Muối đồng (II)sunfat thường được pha vào nước các hồ bơi
tạo màu xanh mát mắt. Ngoài ra nó còn có tác dụng ức chế
sự phát triển của một số vi khuẩn.

Phần I/2b
Phản ứng của
CO2 và dung
dịch Ca(OH)2
tạo ra CaCO3
không tan

2. Giải thích tại sao để nước vôi lâu trong không khí trên
mặt xuất hiện một lớp váng trắng.

Do CO2 trong không khí phản ứng với Ca(OH) 2 tạo ra
CaCO3 không tan (váng trắng)
CaO có tính hút ẩm mạnh
Từ xưa, các cụ đã biết dùng vôi tôi cho vào chai, lọ để
bảo quản cho bánh, kẹo không bị ẩm mốc, chảy nước…

10
Hiện nay CaO được sử dụng làm chất hút ẩm trong nhiều
lĩnh vực:
* CaO làm túi hút ẩm thực phẩm

Phần I/1. CaO
tác dụng với
nước
Để bảo quản bánh kẹo và thực phẩm khô ráo, tất cả các
công ty thực phẩm trên thế giới thường sử dụng "Gói hút
ẩm" đóng gói trong bao bì chứa bánh kẹo và thực phẩm
cần bảo quản. Gói hút ẩm thường là các túi không thấm
nước, có cấu tạo đặc biệt cho khí ẩm dễ dàng xuyên qua,
bên trong túi chứa các hóa chất có khả năng hút ẩm cao so
với trọng lượng của nó như Silicagen (SiO2), canxi oxit
(CaO - vôi sống), đất sét Bentonite... Trong đó, Silicagen
và canxi oxit là được sử dụng nhiều nhất do độ hút ẩm tốt,
giá rẻ và an toàn với thực phẩm. Đặc biệt, oxit canxi được
sử dụng ngày càng nhiều vì đó là chất có nguồn gốc từ
thiên nhiên và gần gũi với con người, ít độc hại. (Chú ý
không được nuốt hoặc để hạt chống ẩm rơi vào mắt rất
nguy hiểm)
* CaO chống trời nồm: Trong trường hợp nhà đã lát nền
rồi, cách chống ẩm đơn giản nhất là mua 10-15 kg vôi
sống, đựng vào thùng gỗ hoặc giấy rồi đặt dưới gầm
giường hoặc góc phòng. Khi trời không ẩm lắm, bạn không
được mở nắp thùng. Khi thời tiết thật ẩm, hoặc nhà rất ướt,
bạn hãy mở nắp thùng vôi ra, đóng kín cửa (chỉ mở cửa sổ
thông gió).Vôi sống sẽ hút ẩm, làm cho nhà khô ráo.
* Trong phòng thí nghiệm CaO là một trong các loại hóa
chất hút ẩm.
Vôi sống để lâu trong không khí bị kém chất lượng do CaO
Phần I/2. CaO phản ứng với CO2 trong không khí, phản ứng với hơi
tác dụng với nước… vì vậy khi bảo quản phải cho vào thùng kín hoặc
oxit axit
túi nilon buộc kín tránh tiếp xúc với không khí.

11

Bài: Tính chất hoá học của axit
Áp dụng
Nội dung

Phần I/3 Axit tác
dụng với bazơ

Phần A/1 Tính
chất hóa học.

2. Phản ứng trung hòa là phản ứng hóa học giữa axit và
bazơ. Sản phẩm tạo thành là muối và nước. Vì thế nó còn
được gọi là phản ứng tạo nước. (Kiến thức bổ sung)
Ví dụ:
NaOH + HCl -> NaCl + H 2O
(Theo
Wikipedia)
3. Để thực hiện thí nghiệm giữa axit và Cu(OH) 2 cần điều
chế Cu(OH)2 trước vì Cu(OH)2 không có sẵn trong phòng
thí nghiệm. Chỉ nên điều chế Cu(OH)2 ít lâu trước khi làm
thí nghiệm vì nó là bazơ không bền dễ phân hủy thành
CuO (màu đen) và nước.
Tại sao chì chỉ tương tác trên bề mặt với dung dịch HCl
loãng? Và khác với chì thì thiếc lại có thể tan tốt trong
các dung dịch nói trên?
–> Chì tạo thành muối không tan PbCl2 và PbSO4 bám lên
bề mặt, ngăn cản chì tiếp xúc với axit nên phản ứng dừng
lại, đối với thiếc thì không như vậy.
Cách pha loãng H2SO4 đặc

Phần B/I Tính
chất vật lí.

Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ tỏa ra một nhiệt
lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn
trong nước. Nếu cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề
mặt axit. Khi xảy ra phản ứng hóa học, nước sôi mãnh liệt
và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
Trái lại khi cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ
khác: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit
vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau đó phân bố

12
đều trong toàn bộ dung dịch. Như vậy khi có phản ứng
xảy ra, nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung
dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên
một cách quá nhanh.
Một lưu ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric luôn luôn
nhớ là “phải đổ từ từ ” axit vào nước và không nên pha
trong các bình thủy tinh. Bởi vì thủy tinh sẽ dễ vở khi
tăng nhiệt độ khi pha.
Phần B/II-2. Axit
sunfuric đặc tác
dụng với kim
loại.

Vận chuyển H2SO4 đặc bằng bình thép. Vì H2SO4 đặc thụ
động với nhôm và sắt.

Điều kiện thực hiện: Lựa chọn các nội dung liên hệ thực tiễn sát với nội
dung bài học, nếu các nội dung này gắn với cuộc sống của học sinh sẽ càng có
giá trị phát triển năng lực giải quyết cấn vấn đề thông qua môn Hóa học, vận
dụng kiến thức hóa học cho học sinh. Muốn vậy, người giáo viên cần nghiên
cứu sách giáo khoa, tìm kiếm tư liệu, xây dựng hệ thống kiến thức liên hệ thực
tế sao cho phù hợp, khoa học.
Hiệu quả: Học sinh hứng thú, ghi nhớ tốt kiến thức, vận dụng kiến thức
làm bài tập, đặc biệt phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa
học, vận dụng kiến thức hóa học cho học sinh
Biện pháp 3. Sử dụng các bài tập thực tế trong hoạt động luyện tập.
Nội dung: Hoạt động vận dụng, GV sử dụng hệ thống bài tập định tính,
định lượng để luyện tập, củng cố, khắc sâu các nội dung đã học. Bản chất của
việc học Hoá học mục đích chính là để HS có thể vận dụng kiến thức vào cuộc
sống, giải quyết vấn đề thông qua môn Hoá học, do đó việc sử dụng bài tập thực
tế có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp thực hiện mục tiêu của việc dạy học bộ
môn.
* Một số bài tập thực tế:
1. Khí SO2 do nhà máy thải ra là nguyên nhân quan trọng nhất gây ô nhiễm
không khí. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định: Nếu lượng SO 2 vượt quá
3.10-5 mol/m3 thì coi như không khí bị ô nhiễm SO 2 .Tiến hành phân tích 50 lít

13
không khí ở một thành phố thấy 0,012 mg SO 2 thì không khí ở đó có bị ô nhiễm
SO2 hay không?
2. Để đánh giá độ ô nhiễm không khí của một nhà máy, người ta tiến hành thí
nghiệm như sau: Lấy 2 lít không khí rồi dẫn qua dung dịch Pb(NO 3)2 dư thấy
xuất hiện kết tủa màu đen. Hãy cho biết hiện tượng trên chứng tỏ không khí bị ô
nhiễm bởi khí nào? Viết phương trình hoá học xảy ra.
Cách tiến hành: Xây dựng các bài tập liên quan đến thức tế, chú ý các vấn
đề thiết thực, găn liền với cuộc sống. Sử dụng trọng hoạt động luyện tập hoặc
giao bài về nhà cho học sinh.
Điều kiện thực hiện: giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung, tìm kiếm tư
liệu, xây dựng hệ thống bài tập thực tế sao cho phù hợp, khoa học.
Hiệu quả: Lựa chọn các bài tập có nội dung liên hệ thực tiễn sát với nội
dung bài học, nếu các nội dung này gắn với cuộc sống của học sinh sẽ càng có
giá trị phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học, vận dụng
kiến thức hóa học cho học sinh.
Biện pháp 4: Hoạt động vận dụng, tìm tòi mở rộng gắn liền với thực tế
Nội dung: Trên quan điểm "Học đi đôi với hành”, sau khi học xong kiến
thức lý thuyết GV có thể gợi mở những hiện tượng có thể thấy xung quanh đời
sống hàng ngày ở địa phương, gia đình … liên quan đến kiến thức đã học giáo
viên giao nhiệm vụ tìm tòi, mở rộng cho học sinh, đặc biệt là các vấn đề gắn
liền với thực tiễn địa phương, các vấn đề có tính “thời sự”, các vấn đề liên
quan đến môi trường.
Cách tiến hành: GV có thể hướng dẫn HS làm các thí nghiệm gắn liền với
bài học để khắc sâu, giáo viên cần hướng dẫn cẩn thận, dặn dò học sinh những
vấn đề cần lưu ý để đảm bảo an toàn cho các em. Tổ chức tham quan, trải
nghiệm gắn với đặc điểm địa phương, phù hợp nội dung kiến thức.
Những thí nghiệm hóa học hướng dẫn học sinh tự làm ở nhà.
Kiến thức
Cách tiến hành
Bài: Một số
oxit quan
trọng

Bài: Một
số bazơ

1. Luộc trứng không cần lửa.
Cho trứng và vôi sống vào một cái bát (lượng vôi đủ để ngập
quả trứng) và rót nước vào. Phản ứng giữa vôi sống và nước
diễn ra mãnh liệt, nhiệt tỏa ra làm chín trứng.
→ Ôn tập kiến thức về phản ứng của oxit bazơ CaO và nước,
pha nước vôi trong (dung dịch Ca(OH)2)
2. Pha chế nước vôi trong, chứng minh hơi ta thở ra có CO2
Lấy một ít vôi tôi hòa vào nước, khuấy đều rồi lọc qua giấy lọc
thu được nước vôi trong. Ngậm một đầu ống hút, cho đầu ống
hút còn lại vào nước vôi trong và thổi ra, thấy nước vôi bị vẩn

14
quan trọng

đục chứng tỏ hơi ta thở ra có khí CO2
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 ↓ +H2O
→ Ôn tập kiến thức về pha chế dung dịch Ca(OH) 2, phản ứng
của dung dịch bazơ và oxit axit

5. Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm
a. Kết quả đạt được:
Sau khi áp dụng các phương pháp này vào giảng dạy tôi thấy chất lượng HS
nâng cao rõ rệt. Dưới đây là kết quả sau khi thực hiện đề tài.
Lớp


số

Trước khi áp dụng biện pháp

Sau khi áp dụng biện pháp

Không

Không

%

hứng thú

Hứng

%

thú

%

hứng thú

Hứng

%

thú

9A

40

25

62,5

15

37,5

0

0

40

100

9D

35

22

62,8

13

37,2

0

0

35

100

Kết quả học tập học kì I của học sinh hai lớp 9A, 9D năm học 2022 -2023
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
STT Lớp
Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1
9A
40
23
57,5
17
42,5
0
0
0
0
2
9D
35
12
34,4
15
42,8
8
22,8
0
0
b. Bài học kinh nghiệm:
Qua thời gian nghiên cứu vận dụng đề tài, tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm như sau:
Về liên hệ thực tế trong giảng dạy hoá học, GV giúp HS tích cực tham gia
vào các hoạt động tìm kiến thức thông qua các bài tập lý thuyết và thực hành, thì
kiến thức và kĩ năng của các em sẽ được củng cố một cách vững chắc, kết quả
học tập không ngừng được nâng cao. HS đã thực sự chủ động, không còn
gượng ép, đã biết tự lĩnh hội tri thức cho mình, từ đó tạo niềm say mê và hứng
thú trong học tập môn hóa học.
Hoàn toàn có thể sử dụng nội dung nêu trên để giúp HS họat động tìm
kiếm kiến thức, rèn luyện kĩ năng giải thích một số hiện tượng có liên quan đến
cuộc sống hàng ngày. Yêu cầu của GV phải làm tốt các khâu chuẩn bị và khéo
léo phối hợp tốt các PP sao cho phù hợp với từng nội dung và mức độ kiến thức
đối với từng đối tượng HS.

15
Nội dung nêu trong đề tài có khả năng phát huy rất tốt năng lực tư duy độc
lập của HS, làm cho không khí học tập của HS hào hứng và sôi nổi hơn. Giáo
viên đóng một vai trò quyết định cho sự thành hay bại của chất lượng dạy học.

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
“Liên hệ thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học ở trường
THCS” là một trong các yêu cầu quan trọng của GV, để kích thích HS học tập
một cách say mê và hứng thú, đồng thời vận dụng những hiểu biết của mình vào
cuộc sống. Muốn làm được điều này, đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn
vững vàng , có sự hiểu biết sâu sắc bao quát hết toàn bộ nội dung chương trình
hóa học của toàn cấp học.
Những kinh nghiệm nêu trong đề tài nhằm mục đích bồi dưỡng và phát
triển kiến thức kỹ năng cho học sinh vừa bền vững, vừa sâu sắc; phát huy tối đa
sự tham gia tích cực của người học. Học sinh có khả năng tự tìm ra kiến thức, tự
mình tham gia các hoạt động để vừa làm vững chắc kiến thức, vừa rèn luyện kỹ
năng. Đề tài này còn tác động rất lớn đến việc phát triển tiềm lực trí tuệ, nâng
cao năng lực tư duy độc lập và khả năng tìm tòi sáng tạo cho HS. Tuy nhiên cần
biết vận dụng các kỹ năng một cách hợp lý và biết kết hợp các kiến thức cơ bản
cho từng học cụ thể thì mới đạt được kết quả cao.
Đề tài này có thể mở rộng và phát triển quy mô hơn, rất mong được các
cấp lãnh đạo triển khai đề tài thành diện rộng. Trên đây mới chỉ là một số vấn đề
trong muôn vàn vấn đề của hóa học liên quan đến thực tế, cuộc sống hàng ngày
của chúng ta. Nhưng vì thời gian có hạn tôi mới chỉ đưa ra một số vấn đề để
giúp cho trong mỗi bài giảng có sự lôi cuốn thu hút, tạo hứng thú cho học sinh
khi học môn hóa học. Trong khi viết đề tài này chắc chắn tôi chưa thấy hết được
những ưu điểm và tồn tại trong tiến trình áp dụng, tôi rất mong được sự góp ý
của các đồng nghiệp để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngành giáo dục cần đầu tư trang thiết bị dạy và học đầy đủ, đây cũng là
điều góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho GV phát huy tốt hiệu quả giờ dạy
cũng như nên có sự quan tâm động viên kịp thời tương xứng.
Ba Vì, Tháng 04 Năm 2023
Người viết đề tài

16

Nguyễn Thuỳ Linh

17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Cương, Phương pháp dạy học và thí nghiệm hoá học.(Chuyên đề
bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 – 2000 cho giáo viên THPT). NXBGD 1999.
- Trần Quốc Đắc (chủ biên) và tập thể tác giả. Hướng dẫn kĩ thuật sử
dụng và làm đồ dùng dạy học. NXBGD 1987.
- Trần Liên Nguyễn. Đố vui về hóa học - NXB Thanh niên 1998
- Trịnh Văn Biều. Các Phương pháp dạy học hiệu quả – ĐHSP. TPHCM
- Sách giáo khoa, sách giáo viên hóa học 9 – BGD&ĐT
- Nguyễn Xuân Trường. 385 câu hỏi và đáp về hoá học và đời sống.
NXBGD 1996
 
Gửi ý kiến